|
NGUYỄN
KHANH/rfa phỏng vấn Ông ROBERT FUNSETH [SETT], người phụ trách chương
trình HO
***
Đúng 30 năm
[30/4/1975-30/4/2005] sau ngày mất nước, Nguyễn Khanh/RFA phỏng vấn
Ông Robert Funsett [30-4-2005]
Mỹ: Vì Thuyền Nhân Chết Giữa Biển Quá Nhiều, Nên Phải Lập Chương
Trình H.O., Nhưng CSVN Đã Mặc Cả Tàn Bạo
Dưới đây là
bài phỏng vấn ông Robert Funsett, người phụ trách chương trình H.O. do
Nguyễn Khanh, phóng viên RFA, thực hiện, cho thấy lý do có chương
trình H.O. chỉ vì có quá nhiều thuyền nhân chết trên biển.
Việt Cộng đã thô bạo mặc cả ra sao cho chương trình này thực hiện? Bài
như sau.
Ít năm sau ngày cuộc chiến Việt Nam kết thúc, Hoa Kỳ bắt đầu thảo luận
với Việt Nam để đưa những cựu quân nhân Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và
gia đình sang Mỹ định cư, qua chương trình được gọi là H.O, viết tắt
từ chữ Humanitarian Operation mà chúng tôi xin được tạm dịch là Chương
Trình Nhân Đạo.
Đại diện cho Washington để thảo luận với Hà Nội về vấn đề này là ông
Phụ Tá Ngoại Trưởng Robert Funsett, từng làm Người Phát Ngôn cho Bộ
Ngoại Giao trong thời gian cuộc chiến Việt Nam đang xảy ra. Ông
Funsett nay đã nghỉ hưu và đồng ý dành cho Ban Việt Ngữ chúng tôi cuộc
phỏng vấn đặc biệt vào đúng chiều 29 tháng Tư giờ Washington, tức sáng
sớm ngày 30 tính theo giờ Việt Nam. Cuộc phỏng vấn do Nguyễn Khanh
thực hiện.
Nguyễn Khanh: chắc ông vẫn nhớ chuyện gì xảy ra ở
Washington cách đây 30
năm chứ?
Robert Funsett: đúng giờ này, tức là vào chiều ngày 29 tháng Tư
năm 1975, Sài Gòn bắt đầu sụp đổ. Từ phòng điều hành, ông Phụ Tá Ngoại
Trưởng Phillip Habib và tôi nói chuyện lần cuối cùng với ông Đại Sứ
Graham Martin.
Đại Sứ Martin không muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì giờ
để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ thị
bắt ông đại sứ phải rời nhiệm sở.
Ông đại sứ Martin nói chuyện với tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo sẽ
lên sân thượng của Tòa Đại Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội. Không
đầy một giờ đồng hồ sau đó, đại sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới
hạm đội bình yên.
Đại Sứ Martin là một người anh hùng, người con trai duy nhất của ông
ta chết ở chiến trường Việt
Nam.
Ông Martin tìm đủ cách đã hoãn giờ phải rời Sài Gòn vì ông ta muốn di
tản được càng nhiều người Việt càng tốt.
Kể từ cái đêm kinh hoàng 29 tháng Tư 1975 đó ở Washington, chúng tôi
không bao giờ quên được Việt Nam. Ở ngay Bộ Ngoại Giao, chúng tôi có
đặt một tấm bảng tưởng niệm những nhân viên ngoại giao đã hy sinh ở
chiến trường Việt
Nam.
Tấm bảng này ghi tên biết bao nhiêu nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đã
chết vì lý tưởng đem lại tự do và dân chủ cho nhân dân miền NamViệt
Nam.
Riêng cá nhân tôi, tôi không thể nào nghĩ rằng 7 năm sau ngày khó quên
đó, tôi lại được trao trách nhiệm đàm phán với giới lãnh đạo Hà Nội để
yêu cầu thả tù chính trị và cho họ cùng với gia đình sang Hoa Kỳ định
cư, cũng như cho những người thuộc diện con lai và thân nhân của những
người Việt đang sinh sống tại Mỹ được rời Việt Nam theo chương trình
Ra Đi Có Trật Tự.
Nguyễn Khanh: tại sao chương trình Ra Đi Có Trật Tự được thành
hình?
Robert Funsett: vì lúc đó có biết bao nhiêu người chết trên
biển cả, nên chúng tôi muốn phía Việt Nam đồng ý cho những người Việt
muốn sang Mỹ được nộp đơn xin định cư và đến Mỹ an toàn hơn.
Nguyễn Khanh: về chương trình H.O, tức là chương trình đưa tù
cải tạo mà trong cuộc điều đình với
Hà Nội,
Washington gọi là
tù nhân chính trị và thân nhân của sang Mỹ, chúng tôi muốn biết ai là
người đưa ra sáng kiến này?
Robert Funsett: khi tôi được cử về làm việc cho Văn Phòng Đặc
Trách Tỵ Nạn của Bộ Ngoại Giao, kế hoạch cứu tù chính trị được đặt
trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự và nằm dưới sự hỗ
trợ của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc.
Chúng tôi bắt đầu tham khảo với đại diện của phía Việt Nam ở Geneva,
và ngay trong buổi gặp gỡ đầu tiên với họ, tôi được thông báo là trong
số những người Hoa Kỳ muốn đón sang Mỹ định cư, thành phần tù nhân
chính trị là diện khó nhất. Năm 1982, tôi gặp ông Trợ Lý Bộ Trưởng Hà
Văn Lâu và đưa đề nghị cho thân nhân của những người đang cư ngụ ở Mỹ
và thành phần tù chính trị được nộp đơn định cư, tức là những cựu quân
nhân quân đội Việt Nam Cộng Hòa bị tù cải tạo vì họ có liên hệ với Hoa
Kỳ, và những nhà văn, nhà báo, các tu sĩ.
Chúng tôi tiếp tục thảo luận, tiếp tục áp lực Việt
Nam qua những phiên họp
cấp thấp nhưng kết quả chẳng được là bao. Một năm sau đó tôi gặp lại
ông Hà Văn Lâu, tiếp tục yêu cầu và thúc đẩy để đạt kết quả.
Đến mùa hè năm 1984, tôi đánh giá thấy những cuộc vận động ngoại giao
như vậy không đem lại kết quả, nên tôi đề nghị ông Ngoại Trưởng George
Schultz trình thẳng với Tổng Thống Reagan là khi thông báo cho Quốc
Hội Liên Bang biết về con số người nước ngoài được nhập cảnh vào Mỹ
hàng năm, ông Ngoại Trưởng sẽ thay mặt Tổng Thống đưa ra một chương
trình mới là nhận 10,000 tù nhân chính trị từ Việt Nam và 5,000 người
ở diện con lai.
Sau đó tôi đi Geneva đưa vấn đề này ra nói với đại diện của Việt Nam
là ông Trợ Lý Bộ Trưởng Ngoại Giao Lê Mai nhưng cũng không nhận được
đáp ứng tích cực, và con số tù nhân chính trị mà chúng tôi hứa nhận
định cư cứ mỗi năm mỗi tăng.
Cuối cùng vào năm 1988, tôi đi Hà Nội gặp ông Trợ Lý Bộ Trưởng Trần
Quang Cơ và chúng tôi đạt được thỏa thuận đầu tiên. Đùng một cái
chuyện Hà Nội chiếm đóng ở Kampuchea được đưa ra mổ xẻ, Hà Nội bèn
loan báo đình chỉ tất cả mọi hợp tác với Hoa Kỳ như hợp tác POW/MIA,
hợp tác thảo luận và thực hiện chương trình cho tù chính trị sang Mỹ
định cư.
Lúc đó làn sóng người vượt biển tiếp tục xảy ra, những chiếc tầu tiếp
tục đến các nước trong vùng, nhiều người chết trên biển cả, bao nhiêu
người khác lọt vào tay hải tặc.
Chúng tôi vẫn tiếp tục thúc đẩy, nói với Hà Nội rằng họ không thể nào
có quan hệ tốt với các nước láng giềng và với Hoa Kỳ nếu không đồng
loạt giải quyết 3 vấn đề then chốt là Kampuchea, POW/MIA và cho tù
nhân chính trị sang Mỹ định cư.
Cuối cùng, tại Hội Nghị Quốc Tế Lần Thứ Nhì Về Tỵ Nạn Đông Dương được
tổ chức ở Geneva hồi 1989, tôi gặp ông Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ
Thạch là người cầm đầu phái đoàn Việt Nam để trình bầy chính sách của
Hoa Kỳ, và phía Việt Nam đồng ý mời tôi trở lại Hà Nội vào tháng Bảy
năm đó và hai bên đều hiểu là sẽ đi đến kết quả rõ rệt.
Nguyễn Khanh: cuộc đàm phán kéo dài bao nhiêu năm mới hoàn tất,
theo ông thì tại sao lại kéo dài như vậy không?
Robert Funsett: tôi không biết rõ chuyện gì xảy ra trong nội bộ
của họ ở Hà Nội, nhưng có lẽ vấn đề tù nhân chính trị, tù cải tạo là
một vấn đề gây rất nhiều tranh cãi, tôi tin rằng ngay trong nội bộ
đảng Cộng Sản Việt Nam, nhất là trong quân đội của họ không muốn thấy
chuyện thả tù và cho đi Mỹ định cư xảy ra.
Nhưng cũng có những người thực tế hơn, lượng định rằng nếu Việt Nam
muốn cải tiến quan hệ với các nước Đông Nam Á và với Hoa Kỳ, thì phải
làm điều này, phải giải quyết những vấn đề có tính cách nhân đạo.
Nguyễn Khanh: lúc ngồi trên máy bay đi Hà Nội để ký kết văn
kiện đưa những tù nhân chính trị từ Việt
Nam sang Mỹ, cảm tưởng
của ông như thế nào?
Robert Funsett: nếu tính từ năm 1982 cho đến năm 1989, tôi thu
thập được rất nhiều kinh nghiệm đàm phán với Hà Nội, vì ít nhất là tôi
và họ nói chuyện với nhau 25 lần, phần lớn là ở Geneve, có 2 lần ở New
York. Vì thế trên đường đi Hà Nội, tôi vừa hy vọng nhưng cũng không
lạc quan quá mức.
Tôi còn nhớ rõ là hôm 29 tháng Bảy, sau 2 ngày thảo luận rốt ráo vẫn
chưa đi đến kết quả nào cụ thể cả. Cuối cùng tôi đề nghị với người cầm
đầu đoàn đàm phán Việt
Nam
là ông Vũ Khoan là tôi với ông ta gặp riêng nhau, để thảo luận từng
điểm một. Chúng tôi cùng nhau giải quyết từng điểm một và cuối cùng
văn kiện ngoại giao đó thành hình, tôi và ông ta cùng ký tắt ở Hà Nội.
Nguyễn Khanh: ông nghĩ gì lúc đặt bút ký kết?
Robert Funsett: dĩ nhiên tôi rất vui mừng, nhưng đồng thời cũng
tiếc là phải mất quá nhiều thời gian mới giải quyết được chuyện này.
Phải cho giải quyết được nhanh hơn thì có thể giảm bớt những ngày khổ
đau cho những người tù chính trị ở Việt
Nam.
Ngày ký kết cũng là ngày mà tôi hãnh diện nhất trong 40 năm làm ngoại
giao.
Đến nay, đã có 300,000 người Việt, gồm cả những cựu tù nhân chính trị
và gia đình đến Mỹ định cư qua chương trình H.O.
Nguyễn Khanh: họ có liên hệ với ông không?
Robert Funsett: nhiều lắm. Trong những năm qua, tôi cảm động,
nghẹn ngào vì cảm tình họ dành cho tôi. Tôi nói với mọi người là công
này không phải chỉ mình tôi, mà còn liên quan đến rất nhiều người khác
nữa, từ những người tham dự đàm phán cho tới những người thực hiện
chương trình giúp định cư.
Tôi nghĩ phần nào chương trình này đã bù lại cho những mất mát xảy đến
sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi Sài Gòn thất thủ, bao nhiêu người
phải đi tù. Chúng tôi vẫn kiên trì, không bỏ rơi họ và cuối cùng đạt
được thành công.
Nguyễn Khanh: xin cám ơn ông.
|


ĐỒ QUỶ SỨ
Đồ quỷ sứ,
sao tuị mi theo cộng !
Trước theo
Nga, nay bán nước theo Tàu
Hết thờ Mác
- Lê, nay lại thờ Mao
Hại dân tộc
Việt Nam tao mãi rứa .
Láo như Vẹm,
sao tụi mi không sửa !
Thay họ tên
như cơm bữa mỗi ngày
Sinh nhật Hồ
giấu kín chẳng ai hay
Lấy đủ vợ:
Tàu, Tây, Nga, Kinh, Thượng .
Tại mần răng
mà tụi mi không ngượng
Không noi
gương Gorbachew, Yeltsin
Chủ trương
xét lại, bỏ cộng thật tình
Nào
glasnost, perestroika tuyệt hảo .
Tại mần răng
mà theo Mao bá đạo
Bỏ giang sơn
quên nòi giống Tiên Rồng
Hiến dâng
Tàu: Hoàng -Trường Sa, biển Đông
Để trả nợ
công Mao giúp súng đạn .
Giấc mơ hão
đại đồng mi chửa chán
Mộng bâng
quơ vô sản hóa nhân loài
Mở biên thùy
mời Trung cộng chung vai
Khai thác
rừng Tây Nguyên, mỏ bauxite .
Chúng mi bán
hết gia tài Mẹ Việt
Từ Nam Quan,
Bản Giốc đến Cà Mâu
Bán hết tài
nguyên, ruộng lúa nương dâu
Chi lạ rứa,
bọn đầu trâu mặt ngựa .
Tội phản quốc bị muôn đời nguyền rủa
Từ khi Hồ,
Đồng bán đảo Hoàng Sa
Duẫn, Anh,
Phiêu, Mạnh, Triết, Dũng gian tà
Rước Mao
chệt vào xây nhà Đại Hán .
Dân đói rách
vì bạo quyền, độc đảng
Vì cộng phỉ
Hồ dâm đãng, vô luân
Xây lâu đài
trên xương máu lương dân
Cán bộ vui
mừng thành tư bản đỏ ./.
Tôn Thất Xứng,
Montreal,
31-08-2009
***
Nghe lại:Chương trình
phát thanh đặc biệt-
chủ đề"Còn
cờ đỏ sao vàng, còn đảng Cộng Sản Việt Nam thì không bao giờ có Độc
Lập-Tự Do-Hạnh Phúc"
***
 
Tôi bước đi không
thấy phố không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ
Trần Dần
***
|