do Khu Hội Cựu TNCT Việt-Nam Nam-Cali chủ trương.


        
                                                          

CAO VĂN VIÊN

 NHỮNG NGÀY CUỐI của
VIỆT  NAM CỘNG H̉A
 

BẮT ĐẦU của MỘT KẾT THÚC

Bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong

NỘI DUNG:
Lời người dịch [xem bên dưới]

 trang 13 đến trang 24
 trang 25 đến trang 34
 trang 35 đến trang 44
 trang 45 đến trang 54

 trang 55 đến trang 64
 trang 65 đến trang 73


trang 75 đến trang 84       trang 85 đến trang 94
trang 95 đến trang 104     trang 105 đến trang 114
    
trang 115 đến trang 124   trang 125 đến trang 134   
trang 135 đến trang 144   trang 145 đến trang 155  
trang 157 đến trang 166   trang 167 đến trang 176
trang 177 đến trang 186  trang 187 đến trang 196

trang 197 đến trang 206   trang 207 đến trang 216
trang 217 đến trang 226   trang 227 đến trang 234
trang 235 đến trang 244   trang 245 đến trang 254

Lời bạt

Phụ bản A: Vai tṛ Bộ Tổng Tham Mưu

Phụ bản B: Bản điều trần của Đại Sứ Graham Martin

kỳ tới:Việt Nam viễn tượng cho một tương lai?
Chiến lược cô lập
 

                                            Foreword

           General Cao Van Vien was the last chairman of the South Vietnamese Joint General Stafi. For almost ten years he worked closely ẃth other senior Vietnamese officers and civilian leaders and dealt with U.S. military and civilian representatives in sai gon. General Vien is therefore particularly well qualified to give an account of the final years from a South Vietnamese standpoint. The views and conclusions are his and not necessarily those of the U.S. Army or the Department of Defense.

     This is one of a series of monographs written by oírlcers Who held responsible positions in the Cambođian, Laotian, and South Vietnamese armed forces. The General Research Corporation provided writing facilities and related support under an Army contract with the Center of Military History. The center published the other monographs informally and distributed them to major research libraries. It was felt, however, that General Vien's book would have a wider audience and deserved formal publication and sale.

        The center also published Vietnam from Cease-Fire to Capitulation by Col. William E. Le Gro, U.S. Army, retiređ, who tells the story with somewhat more attention to the American side.

        None of the authors attempted even semidefinitive accounts, but all wrote a few years after the end of the war while the events were still fresh in their memories. They have provided useful, sometimes invaluable information and source material for serious historians, including those working on the forthcoming U.S. Army in Vietnam series.

Washington, D.C. JAMES L. COLLINS, JR.

June 21 , 1982 Brigadier General, USA

Chief of Military History

Lởi Người dịch

             Bắt đầu tù năm 1976 Trung Tâm quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ mời một số tướng lănh của ba quốc gia Việt, Cam Bốt và Lào, viết lại kinh nghiệm quân sự của họ trong cuộc chiến Đông ương. Sáu cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Ḥa cộng tác và hoàn tất 16 tác phẩm, ghi lại kinh nghiệm của họ về cuộc chiến Việt Nam. Trung Tâm Quân Sử Lục Quân xuất bản bộ sách này dưới tựa là Indochina Monogtaphs, gồm các tác phẩm:

Đại Tướng Cao Văn Viên. The Final Collapse (1983).

- Leadership (1981).

- Đồng tác giả với Trung Tứơng Đồng Văn Khuyên. Reflections

on the Vetnam War (1980).

Trung tướng Đồng Văn Khuyên. The RVNAF [Republic of Vietnam Armed Forces] (1980).

- RVNAF Logistics (1980).

Trung tướng Ngô Quang Trưởng: The Easter Offensive of 1972

(1980).

----- RVNAF and U.S. Operational Cooperation and Coordirultion (1981).

----- Territorial Forces (1981).

Thiếu tướng Nguyện Duy Hinh, Lam Sơn 719 (1979).

--------- Vietnamization and the Cease-fire (1980).
-------- and Trần Đ́nh Thọ. The
South Vietnamese Society (1980).
Chuẩn tớng Trần Đ́nh Thọ. The
Cambodian Incursion (1979).
-------
Pacification (1980).
Đại tá Hoàng Ngọc Lung. The
Geneneral Offensive of 1968-1969 (1981).
---------
Intell
igence (1982).
---------
Strategy and Tactics (1980).
Đồng Văn Khuyên, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Duy Hinh, Trần Đ́nh Thọ, Hoàng Ngọc Lung, The U.
S. Adviser (1980).

       Đặc biệt trong bộ sách Indochina Monographs, tuy không phải là sĩ quan Việt Nam nhưng Đại tá Hoa Kỳ William E. Le Gro, đă soạn một tác phẩm rất quan trọng về hai năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Ḥa, From Cease-Fire to Capitulation. Đại tá Le Gro là một sĩ quan có nhiều kinh nghiệm ở chiến trường Á Châu. Trong năm năm phục vụ tại Việt Nam ông từng giữ chức trưởng pḥng t́nh báo của Sư Đoàn 1 Bộ Binh; ba năm cuối cùng của chiến tranh Việt Nam ông là sĩ quan t́nh báo của MACV, rồi sau đó là trưởng pḥng t́nh báo của cơ quan DAO, Cơ quan quân viện thay thế cho MACV sau Hiệp Định Paris 1973. Tác phẩm của đại tá Le Gro đáng được tham khảo song song ṿi những tác phẩm của các cựu sĩ quan Việt Nam nói trên.

             Trong thời gian dịch quyển Những Ngày Cuối của Việt Nam cộng Ḥa (The Final Collapse) người dịch có nói chuyện nhiều lần với đại tướng Viên. Trong những lần nói chuyện, người dịch biết thêm về những khó khăn đại tướng Viên đối diện từ khi đảm nhiệm chức Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH cho đến ngày miền Nam thất thủ. Trong khi những khó khăn hay những bí mật về cuộc chiến Việt Nam đại tướng Viên đă kinh nghiệm qua, là một đề tài bàn luận khác, ở đây ngời dịch chú trọng tới nội dung của tác phẩm đang được nói đến.

    Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Ḥa được soạn thảo trong khoảng năm 1976-1978 (nhưng đến năm 1983 mới được xuất bản, có lẽ v́ phải chờ giải mật và hợp thức hóa một số hồ sơ). Trong thời gian đó những tài liệu bí mật về cuộc chiến Việt Nam chưa được giải mật nhiều; sách của đại tướng Viên bị giới hạn vào những tài liệu được giải mật lúc đương thời hay chỉ có thể đề cập đến một cách tổng quát. Từ lúc tác phẩm được xuất bản cho đến nay, rất nhiều sách biên khảo hồi kư ra đời, làm sáng tỏ thêm những bí mật của lịch sử và cuộc chiến Việt Nam hơn quyển sách của tướng Viên có thể cung cấp. Ở điểm đó chúng ta thông cảm được cho tác giả Cao Văn Viên: có nhiều sự kiện không được nhấn mạnh hay đề cập đến trong sách v́ không có tài liệu hay nhân chứng. Một vài thí dụ như: những sự kiện về trận Ban Mê Thuột được đại tá Trịnh Tiếu, trưởng pḥng quân báo Quân Đoàn II, sau khi ra khỏi tù cộng sản, viết lại chi tiết hơn. Hay chuyện Quân Đoàn I bị thất thủ một cách nhanh chóng, và cuộc rút quân ở quân đoàn II trở nên rối loạn là trách nhiệm hoàn toàn của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, theo những ǵ cựu phó thủ tướng Nguyễn Lưu Viên kể lại. Một số tài liệu khác cho thấy sự rối loạn của các lệnh hành quân gởi ra mặt trận từ Dinh Độc Lập làm cho cuộc sụp đổ của QLVNCH sụp đổ nhanh hơn.

          Quyển những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Ḥa của tướng Cao Văn Viên là một trong những quyển sách trong bộ Indochina Monographs được nhiều sử gia hiện đại của Trung Tâm Quân Sử Hoa Kỳ như Ronald S. Spector, Jeffrey J. Clarke, Phillip B. Davidson ... trích nhiều trong các sách biên khảo về quân sự và quân sử. Các chương 2, 3, và 4 trong tác phẩm cung cấp nhiều chi tiết cần thiết về các hoạt động quân sự của cộng sản ngay sau ngày ngưng bắn. Thực trạng về sự thiếu thốn quân cụ và vũ khí của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa cũng được nói đến trong các chương này. Người dịch hy vọng quyển những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Ḥa sẽ là một bổ túc cho những sử liệu về sự sụp đổ của một quốc gia và một quân đội đă hiện hữu hai mươi năm.

          Trong bản dịch này, ngoài một số chú thích của dịch giả để cung cấp thêm tài liệu mới vào sử liệu, tác giả Cao Văn Viên cũng thêm vào một số chú thích của ông. Những chú thích này là phản ảnh của tác giả sau khi đọc nhiều tác phẩm có liên hệ đến cuộc chiến, hay liên hệ đến chính cá nhân tác giả.

         Như để giữ lại một dấu tích của tác phẩm ở dạng nguyên thủy Anh ngữ, người dịch và nhà xuất bản xin được chụp lại trang giới thiệu của chuẩn tớng James S. Collins, Jr., viện trưởng Viện Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ, về tác phẩm The Final Collapse của đại tướng Cao Văn Viên.

Nguyễn Kỳ Phong

Tháng 1, 2003. Centreville, Virginia

 

 

 

CHUYỆN BUỒN THÁNG TƯ

(Kính dâng Quê Hương Việt Nam

và những Anh Hồn Tử Sĩ đă hy sinh ngày 30/4/75)

Hỡi ai thương nhớ quê hương

Xin nghe tôi kể chuyện buồn tháng Tư
Tháng Tư, trời đất mây mù
Lệnh hàng, buông súng, thiên thu c̣n buồn!
Nghẹn ngào, nhục tủi, đau thương
Oan khiên máu đỏ ngập đường lui quân
Thân người đổ xuống theo thân
Không làn đất phủ, không lần tiễn đưa !
Xác người bón gốc rừng thưa
Nước tôi có một Tháng Tư kinh hoàng !
Tháng Tư nghe lệnh đầu hàng
Bao người thương lá cờ vàng, quyên sinh!
Nước nguy, vị nước, quên ḿnh
Mất thành, anh dũng cùng thành, chết theo!
Tháng Tư khói lửa ngặt nghèo
Vô danh quốc sử bao nhiêu anh hùng!
Tháng Tư vợ trẻ khóc chồng
Mẹ già chan chứa lệ hồng khóc con
Tháng Tư đại bác nổ gịn
Trẻ thơ chết thảm dưới cơn đạn thù
Tháng Tư rộng cửa lao tù
Nước tôi từ đấy đau nhừ nỗi đau
Núi rừng người nối chân nhau
Kiếp tù lạ nhất địa cầu, thảm chưa !
Trong tù, tù chết như mơ
Ngoài tù, dân chết bên bờ biển đông
Biển xanh pha đỏ máu hồng
Rừng xanh lệ đỏ từng ḍng mồ hôi !
Tháng Tư ai biến nước tôi
Thành ḷ hỏa ngục thiêu người tang thương!

Hỡi ai c̣n nhớ quê hương
Lắng nghe tôi kể chuyện buồn tháng Tư
Nghe rồi, xin chớ làm ngơ
V́ quê ta đă đến giờ đổi thay
Góp vào, xin góp bàn tay
Làm cơn gió lộng thổi bay mây buồn
Ai c̣n nghĩ đến quê hương
Đứng lên mà rửa nỗi hờn Tháng Tư!

Ngô Minh Hằng

 

 C̣n Cờ Đỏ Sao Vàng,C̣n Đảng CộngSản Việt Nam Th́ Không Bao Giờ Có Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc 
Lê Trung Thành 

 

Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ
Trần Dần